Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

Qua xóm nhỏ nghe bài Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp.

Một chiều mùa đông mưa lạnh, tồi ngồi đằng sau trước xe máy của một người anh em Vinh đến Yên Hoà. Đó là điểm cuối cùng trong chuyến đi vòng quanh tỉnh Nghệ An bằng xe máy. Tỉnh Nghệ An khá rông, những người anh em ở Vinh bị bắt trong năm 2011 ở rải rác khắp  người giáp miền núi Đức Thọ của Hà Tĩnh, người giáp Nghi Sơn, Thanh Hoá.

 Quãng đường khá dài, tổng cộng đi rải rác khắp các nhà phải đến hàng trăm cây số. Người chở tôi là em trai của Hồ Đức Hoà, cậu không hề tỏ vẻ mệt mỏi, vì thế tôi cũng không có lý do gì để cơn mệt mỏi trong người trỗi dậy. Lúc này họ mới bị bắt, tôi cần đi đến các nhà để động viên gia đình họ và lấy thông tin viết bài về họ cho dư luận hiểu về con người họ.

Nhiều người nhìn hành động tôi làm lúc đó, họ suy đoán tôi là người Việt Tân. Họ cho rằng chỉ là người của Việt Tân mới tận tâm như vậy.  Họ cho rằng tôi đang đi thực hiênh nhiệm vụ Việt Tân giao và chi phí do Việt Tân cung cấp. Những suy nghĩ đó của họ làm tôi thất vọng về một số người đấu tranh, có lẽ họ không biết rằng đôi khi những kẻ lưu manh, vô học vẫn có những tình cảm bạn bè, và có những hành động làm vì bạn bè mà chả cần vụ lợi gì. Tôi không thanh minh cho việc làm của mình là trong sáng, tôi chỉ e nó bị vấy bẩn sẽ ảnh hưởng đến những anh em ở trong tù. Chả lẽ họ sống và tranh đấu rồi khi sa cơ, chỉ có người trong tổ chức họ mới quan tâm. Còn bạn bè xa lánh họ sao.? Vậy hành động của họ là xấu sao.?

Chính vì thế, tôi phải thanh minh những gì tôi làm với anh em Vinh là tình cảm bạn bè. Họ xứng đáng được những tình cảm như vậy.

Đất Nghệ An cằn cỗi, mùa đông gió mưa lạnh tê tái cắt da cắt thịt, mùa hè nóng như lò lửa. Tôi có nhiều bạn bè sống nghĩa tình ở đó. Không phải bạn bè đấu tranh thôi đâu. Tôi còn có những người anh em chí thiết trong nhóm của hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng. Ngoài ra tôi còn có những bạn bè thời tôi làm dân lưu manh nữa. Tất cả những người anh em dù ở địa vị nào, làm công việc gì, khác biệt trái ngược nhau thế nào họ đều chung một điểm là sẵn sàng giúp đỡ khi tôi cần đến họ.

Vinh là nơi duy nhất tôi có thể nói, đặt chân đến đó tôi không phải dùng đến tiền. Chuyện đi lại, ăn uống, ngủ nghỉ hay giặt quần áo hay cần đồ đạc gì những người anh em ở Vinh sẵn sàng cung cấp. Người cả đời không liên quan gì đến chuyện đấu tranh, không chút lăn tăn khi lái xe ô tô đưa tôi đi đến những nơi nóng bỏng. Người chỉ lo làm ăn chân chính, con cái học hành, công việc thành đạt không quan tâm đến chính trị. Nhưng khi tôi nói muốn ở nhờ nhà họ để tránh công an, họ sắp xếp chu đáo, tận tình không hề e sợ.

Một mảnh đất đầy ắp nghĩa tình như thế, quên sao được. 

Bởi thế tôi nhớ mùa đông năm 2011, hai anh em chúng tôi trên chiếc xe gắn máy hiệu Honda đi hàng trăm cây số trong mưa gió giá lạnh đến từng nhà anh em bị bắt. Giờ thì cũng không còn mấy ai nhắc nhớ đến họ.

Bây giờ Việt Nam vào mùa cưới, những ai chưa từng làm nhân vật chính trong đám cưới chắc trái tim ít nhiều sẽ xao xuyến, rung động trước những hình ảnh mùa cưới đang đến gần. Hình ảnh những chàng trai, cô gái bưng trầu cau lễ vật ăn hỏi hay những tiếng xôn xao náo nhiệt từ ngôi nhà bạt dựng lên đầu thôn, cuối xóm. Những ngôi nhà mà bạt mà cổng kết bằng lá dừa có chữ Tân Hôn hoặc Vu Quy.

Tôi từng là một tù nhân may mắn được nhìn những đám cưới. Ở tù dù chuyển chỗ nào, một thời gian là tôi được làm tự giác. Có nghĩa là được đi lại ra ngoài nhà dân, được cán bộ chở đi làm những việc cho nhà cán bộ. Hoặc sai đi đâu đó ra ngoài làm gì.

Có vài lần nhà quản giáo nào cưới con họ, tôi được chở đi làm những việc chuẩn bị cho đám cưới. Dựng rạp, dán trang trí, trông xe, khiêng vác. Những lần như thế tôi được đối xử như người nhà, tôi không phải mặc quần áo tù. Tôi chứng kiến những chú rể trạc tuổi mình, cô dâu trạc tuổi người yêu mình tràn trề hạnh phúc trước những lời chúc của mọi người. Ở tuổi 25, lúc ấy tôi không vững chắc như bây giờ, nhìn những hình ảnh họ và nghĩ thân phận mình, nhớ đến người yêu mình. Những lúc tôi và người yêu bàn chuyện tương lai...đó là những cảm xúc chua chát, buồn, cay đắng mà khó có thể tả được.

Tôi đi tù, người yêu đến thăm một lần rồi thôi. Nhà cô ấy nghèo, ở trong một xóm nhỏ bên Gia Lâm, mãi tít trong làng Thượng Cát gần ra ven sông Đuống.  Sau lần thăm ấy một thời gian, cô yêu và lấy người khác. Có bạn tù mới vào đội, nhà gần đó kể cho tôi nghe. Tôi biết chồng cô ấy là người làm ăn tử tế, tôi cũng cảm thấy được an ủi dù rất buồn.

Lúc chứng kiến những đám cưới như thế, tôi hình dung cô dâu đang vén váy cưới chui vào xe hoa kia là người yêu mình.

Làm tự giác tôi cũng được chứng kiến những đôi tình nhân gặp nhau. Có cô chung thuỷ hàng tháng đều đặn thăm người yêu, có cô đến một vài lần rồi thôi. Có cô đến xin người yêu thôi không chờ đợi để đi lấy chồng. Nhưng thường thì các cô đều đặn đi thăm chiếm chỉ vài phần trăm. Có trường hợp cô gái quay ra yêu đồng bọn của người yêu. Cả hai dẫn nhau đến thăm và thông báo sẽ cưới nhau. Những nam tù nhân trong trường hợp ấy đều rất buồn, có người suy sụp bỏ ăn, có người phẫn uất tìm cách trốn trại, có người còn định tự vẫn.

Giờ tôi hiểu vì sao tôi được làm tự giác, làm tự giác phải có tiền đóng bảo lãnh, hoặc có thân nhân quyền thế bảo lãnh, hoặc là thân nhân của chính quản giáo. Những sự bảo lãnh chắc chắn để tù nhân không bỏ trốn. Tôi được nhận làm tự giác vì tôi thắng được nỗi đau của mình, những người quản giáo nhận ra điều đó từ khi đó. Còn tôi bây giờ, đã gần 20 năm mới nhận được ra một góc của mình.

Tôi trở về nhà trong một ngày thu, nắng vàng nhẹ, gió tháng 10 mơn man dịu dàng trên mặt, tôi nhìn trên đường đi những xe hoa lác đác. Qua bên sông tìm lối cũ đến cái xóm nhỏ ngày trước hay qua. Nhà cửa xây dựng san sát, khó lắm tôi mới tìm ra đường vào nhà người yêu cũ. Bố mẹ người yêu cũ ngập ngừng khó khăn khi tiếp tôi. Chỉ có cô em út là sinh viên đại học là vẫn đối xử chân tình với tôi như một người anh. Cô không né tránh tôi như người ta vẫn tránh một tên tù về. Sau này đám cưới cô út, tôi có đi dự, cô út đứng ra viết thiếp mời tôi. Tôi hỏi có ngại gặp lại chị em không. Cô út bảo em cưới em mời anh, từ lúc em 11 tuổi đến giờ, em luôn quý mến anh dù anh có làm gì đi nữa. 


Tự nhiên tôi lan man về chuyện của mình là bởi tôi nghĩ đến xóm nhỏ Yên Hoà. Nơi mà người tù nhân Hồ Đức Hoà trạc tuổi tôi đã từng dự định làm đám cưới cho mình vào đầu đông năm 2011 ấy.  Trước lúc bị bắt, Hoà xây ngôi nhà mới trên đất bố mẹ cho, ngôi nhà khi tôi đến còn chưa quét sơn, cửa sổ còn chưa lắp, cầu thang chưa có lan can. Nếu Hoà không bị bắt, chắc lúc tôi đến ngôi nhà đã hoàn thiện, sẽ có trên bức tường sơn mới ấy một khung ảnh cưới của Hoà và vợ.

Hồ Đức Hoà chịu án tù mười mấy năm. Nếu về chắc anh cũng gần 50 tuổi.

Bây giờ đang là mùa cưới, mùa của những đôi uyên ương se kết hạnh phúc cuộc đời. Bạn tôi, Hồ Đức Hoà đang ở trại giam nào, anh có nghĩ gì trong lúc này. Người vợ sắp cưới của anh còn chờ đợi anh không.?

Nhưng tôi tin rằng dù thế nào, sau này anh sẽ có người vợ tốt và có thằng con trai thông minh , thương bố như tôi.

Tôi trải qua ,tôi hiểu, dù có bản lĩnh đến đâu, trong hoàn cảnh như vậy, vào mùa như vậy trong năm. Những người lưu đày chưa từng làm đám cưới  đều chua chát trong lòng. Có lẽ người ấy sẽ không khóc ban ngày, nhưng khi đêm xuống, ký ức trở về, hiếm người ngăn nổi dòng nước mắt trong cảnh cô độc khi nhìn qua hàng song sắt phi 20.


Một chiều hè đổ lửa, tôi đến Thái Bình, tìm mãi đến nhà em Ngọc, người yêu của Pau Le Son. Ăn với gia đình em bữa cơm, an ủi động viên em cũng như cho gia đình em thấy em đã yêu một người tốt. Tìm được một người đàn ông tốt trong đời, thì dù có vài năm chờ đợi cũng xứng đáng. Cuộc đời của một người phụ nữ quan trọng nhất là tìm được một người đàn ông tốt làm chồng. Chứ không phải là làm sao để không bị cô đơn trong quãng thời gian nào đó của cuộc đời.

Mối tình của Lê Văn Sơn là mối tình đầu chớm đơm hoa, mối tình của Hồ Đức Hoà là mối tình sắp đến lúc sắp kết trái. Cả hai người đều bị bắt tù vì dấn thân đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp hơn. Trong muôn vàn những gì họ chịu đựng, đói , rét, bệnh tật của nhà tù, họ còn có những nỗi đau về tâm hồn mà khó ai có thể nhận thấy mà ái ngại cho họ.


Hôm nay tình cờ tôi nghe được bản nhạc Qua Xóm Nhỏ, lời ca buồn khiến tôi nhớ đến các bạn.

Chiều nay tìm về thăm xóm ấy nghe kể rằng một ngày cuối đông
Pháo hồng nhuộm trên bến sông
Có cô em nho nhỏ dẹp thương mong
Bước xuống thuyền hoa kết bằng muôn màu sắc hồng



Những người lưu manh như tôi trước kia, sự mất mát là điều trừng phạt. Chúng tôi chấp nhận nó như tính cách đỏ đen của chúng tôi khi cờ bạc, thua là mất sạch. Vì thế chúng tôi vượt qua. Chúng tôi mất hạnh phúc bởi những toan tính tầm thường của bạc tiền cho cá nhân mình.

Các anh không như lũ chúng tôi, tuy là mất mát về tình cảm, nhưng điều mất mát của các anh là bởi những gì cao cả mà các anh theo đuổi. Cho tất cả người dân trong đất nước này, vì thế tôi nghĩ các anh dù có thế nào, hãy tự hào về những gì mình đã mất đi.

Xin gửi đến các anh bản Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp như một lời động viên, chia sẻ. Với tôi, lúc nào cũng nhớ đến các anh, dù ở đâu trên trái đất này, tôi vẫn luôn nhớ đến các anh.

Hỡi người anh thương
Chưa trọn thề ước
Nhưng tình đất nước
Đâu dễ riêng cho mình
Dệt mộng thắm kết uyên ương.


Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

Đôi lời về bài viết của tác giả Liên Sơn

Tác giả Liên Sơn mới đây có ra mắt dư luận một bài viết có nhan đề - Nói đôi chút về mộng mị dân chủ- được nhiều trang website tự do đăng tải. Bài viết đã dấy lên dư duận nhiều , thậm chí có những phê phán gay gắt hoặc những nhận định về động cơ của người viết.

Tuần nay đọc đi đọc lại bài của Liên Sơn, định không muốn viết gì về những vấn đề nội bộ đấu tranh dân chủ. Đây là những vấn đề rất dễ gây đụng chạm, có lẽ chính vì thế tác giả bài viết - Nói đôi chút về mộng mị dân chủ - phải dùng bút danh. Thực ra tôi không ngại gì chuyện va chạm. Chỉ nghĩ mình mổ xẻ vấn đề nội bộ đấu tranh, bọn dư luận viên nhảy vào xâu xé, nên vì thế cố gắng né tránh đến mức tối đa.

https://www.danluan.org/tin-tuc/20140830/lien-son-noi-chut-ve-mong-mi-dan-chu#comment-127597

Bài viết của Liên Sơn chia làm 3 phần, tác giả tô đậm từng mục.

Phần 1 sùng bái cá nhân.

Mục đầu  tác giả nói về sự tôn sùng cá nhân và đưa ra ví dụ về các nhân vật như Bùi Hằng, Minh Hạnh, Phương Uyên, Cù Huy Hà ...trước tiên phải khẳng định có sự tôn sùng những nhân vật này như tác giả đã đặt ra. Nhưng có một điều quan trọng là sự tôn sùng đó có ở thời điểm nào.? Đây là mấu chốt cần chính xác.

 Ví dụ những người này đang hoạt động, và dư luận thấy những hoạt động của họ, tất cả tôn sùng họ như Liên Sơn nói thì chẳng nói làm gì. Vì lúc đó có thể phải bàn đến chuyện sự tôn sùng thái quá  những người ấy đi quá xa so với vị trí họ đang đứng hay không.

Trích đoạn bài viết - Nói đôi chút về mộng mị dân chủ.

'' Cố nhiên, các danh xưng đẹp đẽ/ kiêu hãnh này thể hiện lòng yêu mến hay thậm chí là sự kỳ vọng lớn lao. Nhưng liệu nó có cần thiết trong giai đoạn này? Khi mà chúng ta chưa cần lắm một trò chơi mang tên phân cấp bằng danh xưng..
Chính “danh xưng sùng bái” thái quá đó dẫn tới hiện tượng, đưa vị trí của một số người bất đồng chính kiến đi quá xa, và lên quá cao so với vị trí mà những người ấy đang đứng. ''


Nhưng Liên Sơn đã bỏ qua một điều, sự tôn sùng này chỉ rộ lên khi những con người trên đã phải trả giá đắt trong chốn lao tù. Mà khi họ trong đó mới được tôn sùng,  thì họ chả có cơ hội nào để dùng '' bằng cấp danh xưng '' gây ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh. Cả Bùi Hằng lẫn Cù Huy Hà Vũ khi bên ngoài hoạt động, những điều tiếng dèm pha về họ không hiếm trong dư luận. Chỉ khi họ bị vào tù rồi, thiên hạ mới đánh giá sự mất mát của họ, vì tình thương yêu với người bị gông cùm, xiềng xích mà thiên hạ nhắc nhở đến nhiều. Tạo thành cái lý do mà Liên Sơn nói là tôn sùng.

Đến cả Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh cũng vậy. Trước khi họ bị bắt, chả ai nhắc nhở gì đến họ, mọi việc họ làm trong âm thầm. Đến khi họ ngồi trong tù rồi, thiên hạ lúc đó mới biết đến và ca tụng họ.

 Đến khi Cù Huy Hà Vũ, Phương Uyên, Minh Hạnh và cả nhiều người trước kia đã được tôn sùng khi ở tù như Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung khi ra tù, đều trở thành những người bình thường, khiêm tốn. Chả ai trong số họ đi quá những gì ở vị trí của họ. Thậm chí họ hoà mình vào cuộc đấu tranh như bao nhiêu người khác. Không nề hà như Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc  Truyển, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Đỗ Thị Minh Hạnh...

Như Bùi Hằng ở lần bắt thứ nhất tại Thanh Hà, đông đảo mọi người đều hướng về chị. Tôn vinh chị, nhưng khi chị ra thì những lời đó thưa dần. Không phải thiên hạ bạc bẽo, mà sự tôn sùng đã chuyển hướng cho những người khác đang trong chốn lao tù như Minh Hạnh, Phương Uyên....

 Chúng ta thấy  việc phân cấp danh xưng hay tôn sùng trước kia của dư luận ảnh hưởng đến họ không.Và họ có dùng sự tôn sùng ấy để làm gì ảnh hưởng đến phong trào không.  Câu trả lời là không.

Vì sự tôn sùng ấy chỉ dành cho người ngã ngựa, như người sa cơ. Nó là lời tri ân, chia sẻ với hoàn cảnh của họ lúc đó. Cũng như việc thăm hỏi, chia sẻ với những người bạn bất ngờ bị bệnh phải nằm viện.

Tôi nghĩ sự ca tụng hay tôn sùng mà Liên Sơn nói về họ là sai lầm về thời điểm. Mà thời điểm tôn sùng như đã nói, chỉ có khi họ đã ở trong tù, họ không thể nào biết đến sự tôn sùng ấy mà làm gì đi quá vị trí của mình gây ảnh hưởng đến phong trào. Và dù họ có biết thì họ cũng chả có cách gì để gây ảnh hưởng đến phong trào.

Còn khi họ ra khỏi nhà tù, họ cũng chẳng nhớ đến những danh xưng ấy nữa. Hầu hết họ đều khiêm tốn và thậm chí còn dưới cả mức vị trí của mình. Nói họ đi quá là không đúng chút nào.


Mục thứ hai Liên Sơn nói đến việc dư luận cho rằng chính quyền đang sợ hãi.

Ngay trong phần này, Liên Sơn lại nói đến một đoạn bác lại phần 1.

''Một Bùi Hằng chưa phải là cái gì đó để nhà nước Việt Nam phải sợ hãi. Kể cả những người bị cầm tù trước đó và sau này như Lê Quốc Quân, Nguyễn Tiến Trung, Uyên-Kha, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định….''


Ở đây Liên Sơn chính mình khẳng định những người được tôn sùng ấy chả là cái gì để nhà nước VN phải sợ hãi. Thế mà ở mục trên Liên Sơn lại cho rằng sự tôn sùng sẽ khiến họ đi quá xa, hay sẽ gây ảnh hưởng xấu đến phong trào đấu tranh.

 Tôi nghĩ Liên Sơn chưa đủ bao quát để nhìn sự tôn sùng xuất hiện như thế nào. Vì thế tác giả cứ nhặt hiện tượng thời điểm rồi đưa vào bài viết. Chính vì thế mới xảy ra chuyện lúc đầu lo lắng sự tôn sùng sẽ làm thế nọ, thế kia...sau cùng đoạn khác lại khẳng định những người được tôn sùng chả là cái gì cả.

trích đoạn phần 2 

'' Thế nên, một Cù Huy Hà Vũ ở nước ngoài “chữa bệnh” cũng không khác gì một Lê Thị Công Nhân ở trong nước - “Thời hạn quản chế của tôi đã kết thúc từ hơn một năm nay, nhưng cuộc sống vẫn không hề thay đổi mà còn bị bóp nghẹt hơn ”

Có lẽ đến đây thì không cần phải nói thêm về việc tác giả Liên Sơn nói về sự tôn sùng cá nhân , phân cấp danh xưng sẽ ảnh hưởng đến phong trào nữa. Tự tác giả cũng đã khẳng định ở phần thứ 2 này.

Dẫn chứng có thể sai, dẫn đến kết luận sai là chuyện thường. Tuy nhiên khách quan nói ở phần thứ hai Liên Sơn nói đến việc nhiều người nghĩ chính quyền VN sợ hãi thì có thể không sai. Bởi vì chính quyền VN vẫn còn nắm được trong tay đội ngũ công cụ bạo lực khổng lồ, cũng như nhiều phương tiện truyền thông. Nói sợ hãi là quá, nhưng nói không sợ hãi cũng chẳng phải. Nếu nói  đúng thì những tổ chức, con người mà Liên Sơn chê trách ấy, ít nhiều đã khiến nhà cầm quyền lo lắng.

Những bằng chứng về sự lo lắng của nhà cầm quyền khi các tổ chức xã hội dân sự, cá nhân đấu tranh thiết nghĩ quá nhiều, không cần phải dẫn giải.

Ở phần 1 Liên Sơn sai toàn phần, ở phân 2 Liên Sơn sai một nửa.

Phần thứ 3 về vấn đề tổ chức.

Ở phần này, ý kiến cá nhân tôi đồng ý hoàn toàn với những gì tác giả nói. Những điểm yếu trong kết cấu của các tổ chức Liên Sơn vạch ra là hiện hữu. Cần nhìn rõ để khắc phục. Nhưng có điều nếu đọc kỹ phần này, ngoài sự khách quan muốn xây dựng phong trào nói chung, tác giả Liên Sơn đã phê phán hành động của các nhóm khác,  hàm ý muốn để cao nhóm của mình, một nhóm mà đang tự hào rằng mình hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả, không khoe khoang khoác lác như nhóm khác. Tuyên truyền tiếp cận người dân bằng nhiều hình thức dễ gần....

 Chính ý đồ này của tác giả là nội dung khởi nguồn của bài viết.

Một người như Phạm Chí Dũng quá lành để viết ra một bài như thế này, người ta nói là của Phạm Chí Dũng. Tôi thì không tin.

Tuy nhiên thì tôi vui vì có những người như Liên Sơn đấu tranh với nhà cầm quyền cộng sản. Một người nhiều mưu lược và thủ đoạn như vậy mới có thể vạch được kế hoạch đối phó với nhà cầm quyền cộng sản. Để thành công Lý Thuỵ bán cụ Phan, Tào Tháo giết Lã Bá Xa để không ảnh hưởng đến mưu tính của mình. Liên Sơn và nhóm của mình có tố chất để làm được điều ấy, ắt cũng có tố chất thành công khi đối đầu với nhà cầm quyền Việt Nam.

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Một thoáng thu.

Tự dưng hôm nay đi học về, lọ mọ giở cái đám tạp nham có tên Đi Tìm Thương Nhớ viết từ hồi mới ở '' bưng biền '' về. Lúc này Berlin đang mưa thu, trời lạnh se sắt. 

Tối Hồ Tây


Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh mầu
Vằng trăng chia ly, lặng lẽ trôi giang đầu
Ngờ đâu anh đi, lạc bước đi qua cầu
Chiều nay qua sông, chợt xót thương đời nhau.

( Em chờ anh trở lại )

Hôm ấy mùa thu, trời cao xanh ngắt, vài đám mây trắng bồng bềnh giữa không trung. Càng gần về Hà Nội, hắn càng thấy nhức mắt, người xe tấp nập, chạy ngược xuôi ríu rít. Một căn nhà cao tầng khủng khiếp làm hắn ngửa cổ nhìn chóng cả mặt. Khói xe, tiếng còi ầm ĩ huyên náo. Hắn nhìn cái gì cũng bé, ngôi nhà, con đường cũng bé. Bước chân vào nhà, hắn nói.

- Sao nhà chật thế nhỉ?

Mẹ hắn cười nhìn hắn trìu mến.

Ơ , lạ nhỉ , thì nhà mình từ xưa đến giờ vẫn thế có rộng thêm gì đâu , từng nào mét thì ngần ấy.

Hắn ra cửa nhìn những hàng quán san sát nhau, những hàng bán bánh kẹo và mỹ phẩm đầy mầu sắc làm hắn hoa mắt ngỡ ngàng. Người ta ở chật vậy mà cũng ở được nhỉ. Suýt nữa thì hắn quên mình đã ở con phố này từ nhỏ cho đến năm 18 tuổi. Lấy cái xe máy ra cửa, mới đầu hơi ngượng tay lái, nhưng vài phút đã quen, hắn chạy từ phố Hàng Bạc lên Hàng Bồ, chốc lại dẫm phanh. Nhiều người thật, có khoảnh đường bằng cái chiếu mà hai ba cái xe đi, trên mỗi xe lạ có hai người. Chả bù nơi hắn ở, cả cánh rừng mênh mông, bạt ngàn và những ngọn núi cao vút, cả ngày mới thấy thấp thoáng bóng người. Dừng lại trước cửa nhà người yêu cũ , hắn thấy bà mẹ cô ấy đang dắt cái xe Chaly ra cửa, bà ấy cũng không để ý gã. Chắc bà ấy nghĩ chẳng bao giờ gã quay về với phố phường. Ngắm một lát, rồi gã chạy xe ra Hồ Tây . Chọn cái ghế đá để ngồi. Vừa đặt mình xuống, một gã thanh niên khuôn mặt bụi bặm đến bảo.

- Nếu cậu không uống gì thì cho anh xin tiền ghế ?

Hắn quá ngạc nhiên, tiền ghế nào nhỉ. Sao lại như vậy, hay người ta đùa. Hắn hỏi tiền gì. Gã kia bảo.

- Tiền ghế em ạ, cái ghế này anh dành để bán hàng rồi, nếu em uống nước gì thì gọi, để vợ anh nó pha. Còn không cho anh xin 5 nghìn tiền ghế.

Hắn sờ tay vào túi, lúc dắt xe ra cửa mẹ có dúi cho hắn hai chục. Uống nước thì cũng được thôi, nhưng kiểu này là trấn lột chắc. Nghĩ đến đấy hắn thấy sống mũi và khoé mắt giật giât. Hắn lắc đầu dứt khoát.

- Em không có tiền.

Gã kia hất hàm.

- Không có thì biến.

Hắn nhìn trên bả vai của gã kia , có xăm hình con phượng, đuôi dài, nét xăm mảnh và sắc nét rất đẹp, cười nhạt coi thường. Hình xăm mỗi thời kỳ một khác, sơ ri của thời trước 85 thường là Phật bà quan âm, Lâm xung đi đày. sau 85 là bông hồng có ***g hình cô gái, hay con thuyền, lâu đài cổ Tình mẫu tử, thời 90 thì phượng hoàng ở bả vai, thời 95 thì Tứ đại mỹ nhân, Lã bố hý Điêu thuyền. Mỗi hình xăm đều nói lên thời kỳ, nơi ở và địa vị chất chác của kẻ mang nó trên mình. Hắn chạm vào chỗ đôi phượng kia hỏi nhẹ nhàng

Dân Z năm 94-95 phải không ? sao phải làm cái trò xin đểu này.

Hắn rời khỏi chiếc ghế  đá Hồ Tây khi bóng tối đã phủ kín mặt hồ sau khi được gã đòi tiền mời một cốc trà đá và điếu Vina không lấy tiền. Xung quanh từng đôi trai gái gục đầu vào vai nhau tâm tình. Hắn bỗng nhớ đến cánh rừng mỗi khi trời sầm sập tối, tiếng côn trùng kêu rỉ rả vài tiếng chim gọi bầy nháo nhác , inh ỏi. Bỗng thấy mình lạc lõng giữa phố phường đang lên đèn rực rỡ các màu, hắn leo lên dốc An Dưong đi ngược lên cầu Thăng Long, đến chân cầu hắn tìm lối  đi ra vệ cỏ sát sông, nằm ngửa nhìn bầu trời lốm đốm sao, hắn châm thuốc lá hút, hắn cứ nằm vậy ngắm sao đến khi trời tang tảng sáng mới về nhà
--------------------

Têm trầu cánh phương.

Mẹ đặt đĩa cốm lên bàn thờ thắp hương báo tổ tiên thằng út lấy vợ.Trước ngày dạm ngõ ,mẹ ngồi trên gian thờ bổ cau , tỉa lá trầu. Lá trầu xanh mướt lá dầy và bóng, quả cau mọng căng, gốc trầu đỏ hồng mập mạp được chọn kỹ càng trên chợ Bắc qua. Con dao nhỏ xinh xinh tỉa lá trầu làm đuôi phượng, gốc trầu làm cánh.Quả cau làm thân. Từng con phượng trầu , đuôi xanh cánh đỏ, thân mấy màu, màu ngoài xanh vỏ cau, màu trong trắng, màu cuối nâu nâu, đàn phượng xuất hiện dần dần hiện lên trên cơi trầu sơn son, thếp vàng .Mẹ têm trầu cẩn thận và trang trọng, cử chỉ nhẹ nhàng , nâng niu mỗi con phượng vừa làm xong. Con dao nhỏ bén sắc uyển chuyển trong bàn tay tỉa lá trầu, đôi mắt qua gọng kính lão chăm chú ngắm từng đường gân lá.

Mẹ têm trầu khéo có tiếng, hàng xóm, bạn bè mỗi khi có việc đều năn nỉ mẹ têm hộ. Họ còn nhờ mẹ đi cùng. Mẹ mặc áo gấm dài, tết tóc vòng quanh , khăn lụa trùm đầu. Trời se lạnh mẹ khoác thêm cái áo bông hoa. Tất cả những trang phục đều được may ở Phố Lương văn Can do những nhà may y phục cổ truyền có tên hiệu mà chữ cuối cùng thường là Trạch. Mẹ bưng cơi trầu cánh phượng bằng tay phải, tay trái đỡ nhẹ cơi trầu. Tất cả từng thứ từ quần áo, khăn, dép , dáng đi bưng trầu đều kỹ càng theo đúng phép tắc.

Bánh cốm Hàng Than bọc trong lần lá xanh,lạt hồng, chè mạn Thái Nguyên búp uốn xoăn đều đặn, mứt sen Hải Dương no tròn,tẩm đường kính trắng. Mọi thứ đều mua sẵn, riêng có trầu cánh phượng mẹ phải lên chợ từ sáng sớm chọn cau đẹp, trầu ngon về têm cho đám hỏi thằng út.

Xong cơi trầu, mẹ đặt năm con phượng lên đĩa nhỏ, phết một chút vôi trắng đặt lên bàn thờ. Mẹ thắp hương khấn rầm rì, chốc lại cúi người vái ngắn , lạy dài. Lễ xong ,mẹ xếp lại đàn phượng trong cơi, từng con phượng trầu ngay ngắn, cân đối. Bàn tay tần ngần ở con cuối cùng.Mẹ rân rấn nước mắt. Chị vào định hỏi mẹ tráp đã mượn chưa. Thấy mẹ đang khóc, ngập ngừng chị ngồi bên cạnh. Mẹ bùi ngùi.

Không biết thằng... thế nào...Ai nói cho nó có biết em nó cưới vợ không?

Chị nói.

Mấy tháng rồi nhà ai cũng bận việc, chỉ gửi bưu điện cho nó thôi, không đi thăm được mẹ ạ.

Mẹ nhìn qua cửa sổ, cái nhìn rất xa, mông lung. Hai hàng lệ vẫn tuôn trên gò má nhăn nheo. Mẹ nhớ đến thằng con nữa đi đã lâu không về nhà. Nó ở xa lắm, nơi có những bức tường cao trên giăng dây thép. Mẹ cứ nghĩ bức tường như thế là quặn đau.

Chị cầm tay mẹ khẽ khàng.

Thôi mẹ đừng nghĩ, ông bà, bố mẹ từ trước đến nay ăn ở với đời đều có nghĩa có tình. Nó sẽ được trời Phật che chở, hàng ngày mẹ vẫn khấn tổ tiên , trời Phật cầu nguyện cho nó. Mà nó cũng lớn rồi, nó đủ nghị lực và khôn ngoan. Nó không khổ đâu mẹ ạ.


Con phượng cuối cùng hứng giọt nước mắt của mẹ, nó rùng mình xoè cánh bay qua khung cửa sổ. Nó bay mải miết, qua bao làng mạc, núi non. Nó tìm đến bàn tay đứa con tha hương. Đậu trên bàn tay chai sạn, nó kể cho kẻ lưu đày, nỗi lòng của người mẹ têm trầu cánh phượng, trong một mùa thu đầy nắng vàng, có những chiếc xích lô đẹp chở những bà mẹ mang khay trầu đi đầu, những chiếc sau chở những thanh niên áo trắng tinh, quần âu bưng tráp.

Con phượng nhỏ xíu xinh xinh bằng cau, lá trầu, vỏ trầu bay mất từ lúc nào trên bàn tay chai sạn vì cầm cuốc, xẻng của kẻ lưu đầy khổ sai. Chả có con phương nào như thế biết bay, nhưng trong lòng tên tù luôn khắc sâu con phượng đó là có thật.

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

Tào lao chuyến đi của Lê Hồng Anh.

Ông Lê Hồng Anh thường trực BBT đi Tàu, yết kiến ông Tập Cận Bình, cầm tờ giấy do BCT thống nhất soạn sẵn đọc.

Nhiều người chê ông LHA không có bản lĩnh ngoai giao, nhưng hầu hết các vị BCT VN ra nước ngoài đều đọc giấy như vậy. Nhưng trong mối quan hệ anh em Tàu - Việt mà đọc như vậy cũng có nghĩa chả tình cảm gì cả. Cũng khách sáo, lệ bộ như các nước khác. Thông tin cũng không có gì bí mật. Nhìn thì tưởng anh em, nhưng xem kỹ thì cũng như người ngoài với nhau.

Ông LHA đi với danh nghĩa đặc phái viên của ông TBT Nguyễn Phú Trọng. Nghĩ thì cũng buồn cười, tự nhiên bây giờ ông TBT lại có một đặc phái viên đi sang gặp TBT Tàu.

 Thử đặt địa vị thiên tử của Tập Cận Bình, phải ngồi tiếp một sứ giả nước nhỏ, sứ giả cầm sớ đọc. Oai hay không oai.?

Thời phong kiến thì đúng là oai, thiên tử đón sứ giả chư hầu.

Nhưng thời nay thì liệu TCB có phải mất thì giờ ngồi tiếp một đặc phái viên của một nước nhỏ đến đọc một bài soạn sẵn không.?

Chức của Lê Hồng Anh mang tiếng là uỷ viên BCT, nhưng thực ra là quyền hạn mờ nhạt, đến hết nhiệm kỳ này là về hạ cánh an toàn. Một người chả còn cái gì để hướng đến phía trước nữa. Tàu khó có thể lợi dụng hứa hẹn được gì.

Cái tư cách đi của ông Lê Hồng Anh và địa vị cá nhân ông Lê Hồng Anh cùng với tương lai chính trị của ông, đến tiếp kiến Tập Cận Bình với bài diễn văn đọc sẵn. Cho thấy Đảng CSVN cũng chả mặn mà gì với Tập Cận Bình.

Nếu người đi là ông Phạm Quang Nghị, Nguyễn Bá Thanh...những nhân vật tương lai tới còn lên cao thì, có thể nói trong thời gian tới VN còn gắn bó mật thiết với Tàu hơn là có cơ sở. Một chuyến đi của Lê Hồng Anh chỉ là thủ tục kết thúc cho một chương trình đã lên sẵn mà thôi. Chuyến đi như thế chả thể  nói là mang lại việc gần nhau hơn hay xa nhau hơn.

Mấy cái chuyện đền bù do biểu tình bạo động và chuyện xử Bùi Hằng là món quà nhỏ, dù không thân thiện nhưng đi sứ Tàu thì phải có quà, cái lệ của chư hầu mấy chục năm nay đều thế, không dễ đi tay không được. Cũng không thể nói là vì thế mà đánh giá Việt sát Tàu hơn. Mọi chuyện chỉ như trước kia. Quan hệ Việt Tàu chắc chắn sau vụ giàn khoan chỉ như cũ là cùng, khó có thể tiến thêm được nữa.

 Có một điểm mà những nhà quan sát nào chú ý, sẽ thấy ban lãnh đạo VN không ưa gì Tập Cận Bình.

Thường thì báo chí VN  được ban tuyên giáo trung ương chỉ đạo đưa tin bỡ đợ những động thái của Nga, Tàu trong cũng như ngoài nước.  Nhưng riêng lần này, Tập Cận Bình mở một cuộc chống tham nhũng rất lớn. Lẽ ra theo thông thường, báo chí Vn phải ca ngợi công cuộc của Tập. Phải ca ngợi mô hình mà Tập đang làm rất quyết liệt.

Trái lại nhiều tin tức tuồn ra, hoặc kể cả trên báo chí chính thống đưa tin nội dung đều khiến người VN đọc có cảm tưởng là Tập đang thanh trừng bè phái, hạ bệ Giang. Thâu tóm quyền lực về cho mình. Chứ không phải Tập Cận Bình và ĐCSTQ đang đề cao nghiêm minh, kiên quyết làm trong sạch Đảng, diệt trừ bè lũ tham nhũng.

Thậm chí có những tin từ đâu đầy hào hứng khi nói việc quân đội âm mưu đảo chính Tập Cận Bình.

Lý do VN không thân Tàu hơn, ngoài việc giàn khoan ra, việc ấy chỉ là phụ. Ai cũng biết ĐCSVN lo tính mạng của mình hơn tất cả. Lý do không thân Tàu hơn lúc này là vì đường lối của Tập Cận Bình trong đối nội.

Lãnh đạo VN lo ngại gắn bó với Tập bây giờ, sẽ phải thực thi những gì Tập đang làm, phải ca ngợi và thực hiện nó. Trong khi ở VN tham nhũng tràn lan từ cấp cao nhất. Giờ mà học và làm theo Tập thì có khi tính mạng của ĐCSVN không trụ nổi. Cho nên Vn không mặn mà gì với Tập qua việc để ông Lê Hồng Anh, một người đã sắp hết thời đi sứ. Cũng không cho báo chí ca ngợi rầm rộ hình ảnh uy phong trấn áp, diệt trừ tham nhũng của Tập, trái lại còn mập mờ cho rằng Tập thanh trừng bè phái để tập trung quyền lực.

 Nếu vậy, đằng sau chuyện VN không thân Tàu hơn, chả có gì đáng mừng.

Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

Nhớ về một con sông đang gần cạn.

Bọn trẻ chúng tôi ngày ấy đi bơi ở bể Tăng Bạt Hổ. Phải một tuần mới có dịp đi một lần vì tiền không có. Chúng tôi cuốc bộ từ nhà đến Tăng Bạt Hổ. Đoạn đường khá dài so với bây giờ, nhưng hồi ấy đôi chân của chúng tôi không biết mệt mỏi là gì. Chúng tôi đi bộ qua cầu Long Biên sang bãi giữa sông Hồng chơi, tìm những mảnh vỡ của bom bi, về đập lấy bi chơi. Những mảnh gang là vỏ quả bom, bên trong chứa những viên bi sắt nhỏ, có lúc còn nhặt được cả vỏ đạn 12 ly 7 nữa.

Chơi chán bên đó, lấy mía tre ăn. Mía tre như loại cỏ to, ăn ngòn ngọt, cọng nó chỉ bằng chiếc đũa. Mọc dại đầy mép bãi sông. Xong leo lên cầu sang bên Gia Lâm đi vòng đường cầu phao về. Chả biết mệt là gì.

Đi bộ từ nhà đến bể bơi Tăng Bạt Hổ chả thấm gì, trời nắng chang chang, đi toàn chân đất, mặc quần đùi, tiền dắt ở cạp quần. Cẩn thận hơn thì ở cái chỗ chun quần rạch một cái khe, luồn tiền vào đó. Tiền chỉ đủ mua được một vé vào bơi một tăng.  Cái bể bơi đó tinh theo tăng, mỗi tăng một tiếng. Hết một tiếng là bảo vệ tuýt còi lùa lũ trẻ lên như vịt. Sau đó mới đến lượt mới xuống. Bảo vệ canh đông, lên bờ rồi là vào khu đi ra, khó mà xoay sở vào lại.

Hôm nào không có tiền, bọn bạn rủ đi, tôi cũng vẫn đi. Đến nơi chạy quanh bức tường rình bảo vệ sơ hở để trèo qua nhảy vào bể bơi. Từ bờ tường đến bể bơi là một khoảng trống đường tập chạy. Trèo qua tường không bị phát hiện đã khó, băng được qua khoảng trống ấy vào đến bể bơi càng khó hơn.

Tôi học lặn ở bể bơi, còn chả học bơi được tí nào ở đấy. Người cứ lúc nhúc. Sau không có tiền, mà lại xa. Tôi lên hồ Than ở bãi Nghĩa Dũng.

Hồ Than nằm khoảng đối diện với nhà máy nước Yên Phụ, giờ nó là sân bóng hay ten nít gì đó thì phải. Lúc đó là con đê đất, qua đê là những rặng tre, ngôi nhà như một làng quê. Cái tên hồ Than là do người ta đổ xỉ than xuống mép hồ. Hình như xỉ than lại làm cho nước trong thì phải, nước hồ luôn sạch trong như bể bơi. Hồ Than nằm ngay mép chân đê, ô tô chở xỉ than từ trên đê trút xuống hồ, xỉ than tạo thành một con dốc có chiều dài gần hết hồ. Phía bên kia hồ là nhà dân, chúng tôi chỉ xuống nước từ phía chân đê tức dốc xỉ than ấy.

Vài đứa trẻ đã chết vì xuống dốc trôi tuột trên lớp xỉ than, vì cả quãng dốc chiều ngang mấy chục mét xuống hồ chỗ nông sâu khác nhau. Những đứa không biết vừa lò dò trên dốc xỉ, trôi tuột xuống nơi sâu nhất và chấm dứt đời mình ở tuổi thiếu niên.  Người ta thấy vậy liền cấm chúng tôi tắm ở hồ Than.

 Thế là chúng tôi ra sông Hồng, nơi chẳng ai cấm, chẳng ai bán vé, chẳng ai thèm nhìn chúng tôi làm gì. Bờ sông hoang vu, có lúc bờ bên Hà Nội bị sạt lở thành vách dựng đứng, xà lan cập ven bờ ở chỗ cầu Chương Dương bây giờ. Từ nhà tôi ra sông Hồng là gần nhất, chỉ băng qua con đê một đoạn là đến bờ sông. Mùa thu nước sông xuống thấp lộ ra những doi cát loang lổ, nước sông xanh trong, tôi tạp bơi tha hồ từ doi cát này sang doi cát kia. Dần dần thành biết bơi. Nhưng vì bơi ở sông, tất cả chúng tôi đều quen một kiểu là đầu luôn trên mặt nước để canh chừng bè nứa, xà lan đi qua. Rất nhiều đứa trẻ đã chết vì rúc vào gầm bè nứa hay gầm xà lan. Chỗ chúng tôi chết hai người, đó là Thắng và Chính. Bạn Thắng hay trao đổi truyện với tôi, hai thằng đi hiệu sách, mỗi đứa mua một truyện, về đọc xong thì đổi nhau đọc tiếp cho tiết kiệm tiền. Thắng chết hai ngày sau nhà tìm được xác, còn anh Chính hơn tôi 3  tuổi thì chết phải tuần mới mò được xác. Bạn Thắng thì mất do chui gầm xà lan, anh Chính thì nhảy đúng đống sắt dưới sông. Dạo ấy dưới sông đôi chỗ có sắt, về sau sắt vụn đắt còn có nghề thuyền chài đi mò sắt dưới lòng sông nữa.

Sau này đôi khi tôi ra bể bơi, thấy những người bơi chuyên nghiệp, họ đeo kính, đội mũ bơi. Họ bới sải hay nhái đều ngụp xuống vài nhịp rồi nhô mặt lên thở, rồi lại ngụp xuống bơi vài nhịp. Bọn tôi bơi hầu như tóc không ướt, chỉ ướt tí gáy, nước không  bắn nhiều vì chúng tôi bơi chậm lấy sức bơi dài. Nếu bạn nhìn thấy ai bơi, đầu luôn ngoi trên mặt nước khi bơi nhái, không có giọt nước nào bắn lên mặt nước. Đó chính là kiểu bơi của những đứa trẻ đường phố thời bao cấp, kiểu bơi dài đến cả cây số, lên bờ không chút thở dốc nào. Tìm hiểu tôi mới biết cái kiểu bơi ngụp vài nhịp ấy là đúng sách dậy cho người đi bơi. Có điều nếu ở sông thì kiểu ấy có thể nguy hiểm vì vấp phải cái vật gì đang trôi, nhất là lúc nước chảy mạnh. Hoặc nơi ô nhiễm bơi ngụp nhịp ngoi lên thế cũng bệnh tật.

Mùa thu năm ấy tôi học bơi thành công ở sông Hồng. Đến mùa nước lũ mới bắt đầu, nước chưa dâng lên mặt bờ là lúc bơi thích nhất. Nước sông đỏ hồng không xanh trong như mùa thu, trên mặt nước đôi khi có cả những cây gỗ to trôi từ trên thượng nguồn về. Chắc gỗ hồi đó cũng chả đắt và hiếm nên nó trôi về qua Hà Nội như vậy. Bọn tôi bơi vượt sông, thường chỉ có tôi và thằng An Bính và thằng Hùng là với nhau. Nhà tôi số 22 , nhà An 28 còn nhà Hùng số 36. Nhà hai thằng đã bán đi chỗ khác ở từ lâu, thằng Hùng tù ra tù vào rồi chết bị bệnh tật. Còn An thỉnh thoảng có về qua ngõ, nhưng mươi năm gần lại thì chả gặp nó nữa.

Vượt sông ở tuổi 12 cần phải can đảm và bình tĩnh. Chúng tôi bơi nhái, đầu ngẩng cao, vừa bơi vừa nói chuyện, nước sông khá manh, bờ bên kia nhìn mờ mờ ảo ảo. Chúng tôi cứ lựa chếch dòng nước mà đi. Sợ nhất đang băng qua sông mà gặp ca nô lớn đi qua, sóng đánh tơi bời, nhấn lên nhấn xuống, mặt mũi tối tăm, uống nước sông đến oẹ ra là thường. Lúc ấy thường bơi đứng chịu trận. Nếu không gặp ca nô đi qua, chúng tôi chếch dòng sang đến bờ bên kia cũng mất hơn một tiếng. Cái độ chếch tuỳ thuộc vào hôm nước mạnh hay yếu, nếu nước xiết có khi điểm chếch đến 3 cây số.

Khó nhất là khi đến gần bờ bên kia, thế nào cũng gặp dòng nước xiết chảy cách bờ chục mét, không xiết thì là xoáy. Gặp nước xiết thì dùng hết sức để bơi sải cắt qua, lúc đó sức đã kệt lắm, nhưng nếu không băng qua đoạn nước xiết ấy thì không biết bao giờ vào đến bờ. Có thể bị cuốn đi đến lúc kiệt sức và chết. Nhưng nước xiết chưa hiểm bằng vùng nước xoáy, ở vùng nước xoáy thì có bơi sải mạnh để cắt ra đến mấy cũng chả ăn thua. Một lần tôi rơi vào vùng xoaý, dùng hết sức bơi sải cắt mà khổng  ra được. Mệt quá thả người bơi ngửa nhắm mắt nghỉ mấy phút, mở mắt ra quay người lại, mặt đập vào bờ.

 Bơi ở sông Hồng lên bờ, khắp người phủ lớp phù sa mịn như phấn. Sang đến bờ bên kia tha hồ nằm nghỉ, cảm tưởng như đã đến một vùng đất hoang vu. Mà nó hoang vu thật, ngày ấy các khu ven sông còn đường đất, rặng tre, bụi chuối và la liệt ao, người ta trồng ngô, cắt cỏ, nuôi bò. Ở Lò Đúc còn đầy cò về đậu, lúc đó người ta gọi Lò Đúc là bang cứt cò, còn chỗ bãi sông đoạn Phúc Tân, Chương Dương, Hàm Tử là bang cứt bò. Bên bãi giữa sông có rắn, chuột, ếch, nhái... rắn thì chúng tôi không dám lại gần. Nhưng ếch nhái có lúc vồ được dăm con, trói chúng lại buộc thành dây quanh bụng rồi bơi về. Sang bờ bên này là xin lửa nướng ăn luôn tại chỗ. Sợ mang về nhà bố mẹ biết bơi sống thì no đòn.

Tôi có một con chó ta tên là Lu, nó chạy theo tôi ra sông, gần sông tôi mới phát hiện, nó đi theo lặng lẽ từ lúc nào. Thế là tôi lôi cổ nó xuống sông, nó trụ bốn chân ghì lại không xuống. Tôi lôi không được thả quách nó ra, rồi tôi nhảy xuống sông. Thật kỳ lạ, con Lu lại chạy xuống sát mătj nước tru tréo như gọi tôi vào. Tôi nhìn nó cười như bảo mày yên tâm, tao bơi giỏi.  Nó bồn chồn, cuống quýt dậm chân trên bờ, miệng ăng ẳng, rồi bất ngờ nó nhảy bổ xuống nước một cách quả quyết bơi lại gần tôi liếm mặt như muốn bảo, tôi sẽ ở gần cậu chủ dù thế nào đi nữa. Lần đó tôi lên bờ, nhìn nó mãi, tôi hiểu thế nào là tình bạn giữa người và chó.

 Bố tôi đi tù, mẹ tôi bán con Lu lấy tiền tiếp tế, đợt đó nhà tôi kiệt quệ vì khi khám nhà người ta thu sạch. Mẹ tôi đi bán nước chè rong, cứ xách cái ấm giỏ đi bộ hết phố này sang phố khác. Tôi đi học về mới biết con Lu bị bán, tôi đi tìm nó trên chợ chó Long Biên, ngó từng cái chuồng sắt. Rồi tôi đi quanh những hàng thịt chó bốc mùi thơm phức tìm nó. Tôi thấy cái đầu chó thui trong tủ kính nhe răng đau đớn. Tôi khóc nức nở. Tôi ước đến cháy gan ruột có tiền để tìm thấy con Lu chuộc về.

Nhiều năm sau, trải qua đủ mọi khốc liệt cuộc đời, thăng trầm các kiểu từ nhà tù đến giám đốc . Tôi lái ô tô đi qua cầu Long Biên, bỗng nhiên nước mắt trào ra không ngăn nổi. Lúc ấy tôi đang làm cầm đồ và cá độ bóng đá, vài chục triệu mất đi chả nghĩa gì chỉ là cái tặc lưỡi. Thế nhưng tôi không ngăn nổi những dòng nước mắt của hồi ức. Tôi về còn làm thơ, bài thơ có đoạn

Lu lu ơi.
Hôm nay tao đi xe bốn bánh
Lượn qua cầu Long Biên
Chợ chó bây giờ không họp
Mày về đâu, ngần ấy đoạn trường.

Mãi trong cuộc đời này, tôi chưa lúc nào quên hình ảnh con Lu lo lắng cho tôi, rồi nó quyết định nhảy xuống sông để bơi cạnh tôi, mặc dù trước đó nó rất sợ. Tôi không dám ví người với chó, nhưng trong cuộc đời này nhiều người tưởng là bạn, là người yêu đã bỏ tôi trong lúc tôi gian nan. Vì thế hôm ấy, khi lái xe ô tô, tiền đầy cốp xe, kiếm ghế sau, súng ngắn dắt lưng. Tôi khóc vì thương nhớ một tình bạn thời thơ ấu đã tuột mất.

 Bây giờ con sông xưa đã cạn, chẳng còn những mùa nước lũ dâng đến tận mép chân đê. Nước lớn nhất cũng không ngập nổi bãi giữa. Phía bờ bên Hà Nội cạn trơ đáy, nước sông đen xì. Người ta trồng rau luôn dưới lòng sông. Càng theo năm tháng con sông càng cạn. Cũng như tôi càng lớn lên, càng thấy tình người trong xã hội cạn dần đi cùng với dòng sông thơ ấu.

 Hôm trước ngồi ở trung tâm Viên hoa lệ , trong một quán cà phê sang trọng. Tí Hớn kể những mẩu chuyện đố vui, mấy người bạn đều khen Tí Hớn thông minh. Tôi không hề cười, khi Tí Hớn chạy ra ngoài chơi. Tôi mới nói với các bác.

- Em không thích nó thế, nếu cứ thông mình thế này sẽ trở thành ranh mãnh. Em sẽ cấm nó đọc những chuyện như thế. Nó cần phải đọc sách như Con Bim Trắng Tai Đen, Hành Trình Ngày Thơ Ấu....phải nuôi tình cảm cho nó trước rồi mới đến sự thông minh. Em sợ xã hội này, nếu sự thông minh mà không có tình cảm thì sẽ thành người khó lường, rất dễ thành ranh mà và khôn lỏi.

Những người anh lớn tuổi bỗng trầm ngâm, rồi tất cả gật đầu.

- Đúng là bây giờ, ở nước mình, tình người ngày càng cạn quá. Phải cần có cách giáo dục khác.

Trong đầu tôi,  hiện lại dòng sông cạn đáy, đen nhớp nháp và rác rưởi ngồn ngang. Dòng sông ấy bao giờ mới đỏ lựng phù sa  bám mịn màng trên làn da người vào mùa nước, và trong xanh êm ả vào mùa thu.


Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

Khoảnh khắc cuộc đời.

- Anh không nghĩ đến mẹ anh và con anh sao.? Chúng nó chả tốt gì với anh đâu, việc gì anh phải giữ cho chúng nó.

Tên ttù im lặng, dường như hắn ta đang nhớ về gia đình. Các ngón tay hắn đan vào nhau xiết chặt nổi gân trên bàn tay gầy mảnh. Cán bộ điều tra mái tóc hoa râm nhiều kinh nghiệm liếc ánh mắt sắc lạnh nhìn đối tượng. Ông nói chậm rãi.

- Khi chúng tôi khám nhà anh, con trai anh hỏi chúng tôi - các bác bắt bố cháu à, thế bao giờ bố cháu về? - Thằng bé xinh trai và nghịch nhỉ, nó còn lấy đũa chọc vào máy tính.

Người cán bộ điều tra thở dài nói tiếp khi đã ngừng lại vài giây quan sát đối tượng. Hai bàn tay của đối tượng đã đưa lên bịt hai hốc mắt ôm vòng lên trán.

- Cuộc đời còn nhiều gánh nợ lắm, nợ mẹ sinh ra, nợ trách nhiệm nuôi con mình lớn khôn , sao cho nó bằng đứa trẻ khác. Nghĩ kỹ đi, không thương mình thì cũng phải thương con mình.

Bờ vai của đối tượng rung rung. Đã 5 ngày thẩm vấn, đối tượng luôn ma mãnh trước mối câu hỏi đặt ra, thậm chí còn nở nụ cười khi phản bác được lập luận của cán bộ điều tra. Hắn tỉnh táo và phản xạ nhanh nhẹn trước những câu hỏi tưởng là đơn giản nhưng là một cái bẫy. Cảm giác của hắn khá tốt hơn người khác. Hồ sơ cho thấy hắn là kẻ từng phạm pháp nhiều, nên hắn có sức chịu đựng và khôn ngoan hơn đối tương khác là thường.

Mày nghĩ cứng lắm ư, ông thầm nghĩ rồi ngưng lại không nói gì, cứ để đối tượng trong trạng thái vậy, ông chỉ việc chờ đợi với cây bút trên tay. Thời gian với ông không gấp, công việc của ông không vội, nó cứ đều đặn như thế này. Có kẻ vào đây còn quát tháo , còn doạ chết...nhưng sau cùng những điểm yếu của chúng sẽ bị chọc thủng dần, đến khi chúng suy sụp nhìn ông bằng con mắt van lơn. Ông nhìn đồng hồ, còn tiếng nữa là hết giờ làm việc. Những kẻ bị bắt thường khủng hoảng tâm lý nhất từ ngày thứ ba trở đi. Sau đó nửa tháng chúng lại trở nên lì lợm. Rồi đến tháng thứ ba đổ ra chúng lại suy sụp. Rồi chúng lại trở nên bất cần...Tuỳ theo mỗi đứa có hoàn cảnh và tư duy thế nào. Người cán bộ điều tra kinh nghiệm là phải nắm bắt được những khoảnh khắc mà chúng suy sụp, biết khai thác đúng điểm yếu vào thời điểm nào mà đối tượng đang hoang mang.

Cùng với bờ vai rung rung, đối tượng nấc hai tiếng nhỏ, bàn tay hắn vẫn bịt chặt mắt của mình. Đầu hắn cúi xuống bàn thấp hơn như không gánh nổi suy nghĩ trong đầu mình. Ông rót nước và ân cần đặt bàn tay lên vai hắn thân thiện như một người cha, ngừoi anh.


- Uống nước đi.

Tên tù ngẩng đầu lên, hắn nhìn ông bằng khuôn mặt nhoe nhoét vì nước mắt.

- Nghĩ xong chưa.? 

Ông hỏi giọng thân tình, ông ngồi xuống bàn đặt bút lên trang giấy và nhìn đối tượng chờ.

Tên tù lau nước mắt, hắn hỏi ông.

- Anh có thấy tôi khóc rồi chứ, khi anh nhắc đến con tôi.?

Ông sững sờ gật đầu, đó là câu mà ông không nghĩ hắn sẽ nói sau trạng thái như vậy.

- Anh bảo tôi nghĩ, anh biết tôi đã nghĩ xong cái gì không.?

Ông nhìn hắn, trong đôi mắt hắn không lộ vẻ ranh ma mà hắn nhìn ông như một người bạn chí cốt, sắp sửa nói câu tâm tình.

Hắn nói như giãi bày.

- Tôi thương con tôi lắm. Vì thế tôi chợt nhận ra trong một khoảnh khắc mà mình nhớ thương con nhất một điều. Đó là nếu mình thương con như vậy, thì những người bố khác cũng thương con họ như vậy.

Hắn ngừng lại, nhấp nước uống, nhìn thẳng vào mắt ông và nói tiếp.

- Vì vậy không nên đẩy những người bố khác phải chịu cảnh thương nhớ con như mình. Không nên đẩy họ phải chịu cái mình đang khổ tâm chịu. Việc hôm nay có mình tôi làm, nếu cần thì thực nghiệm điều tra. Câu trả lời cuối cùng của tôi là chỉ có mình tôi làm.

Cán bộ điều tra bỏ cái bút, khuôn mặt thoáng những nét mỉa mai.

- Được, khỏi cần thực nghiệm, tao biết không phải mày làm, nhưng thưc nghiệm mày làm được vì mày có nghề. Mày muốn tù thì được thôi. Cơ hội mà chúng tao giúp đỡ mày không nhận thì không có gì để nói.

Tên tù nói giọng nhẹ nhàng bình thản.

- Ông có muốn nghe tôi kể nốt mình nghĩ gì không.?

Nghĩ gì- cán bộ điều tra gằn giọng.

Tên tù nhìn ông như thương hại sự nóng giận mà ông không kiềm chế được. Ông lấy lại sự bình tĩnh và xuê xoa nói.

- Nghĩ gì cứ nói cho nhau biết đi.

Tên tù kể.

Tôi đã từng đi tù, không phải một lần, mà mấy lần. Ông cũng biết đấy, chúng tôi ngày ấy đi tù lãng nhách lắm. Chỉ một câu nói, cái nhìn hoặc số tiền không lớn , chúng tôi sẵn sàng vác dao đến chém nhau. Rồi đi tù, lúc 3 năm, lúc 7 năm. Lũ chúng tôi đi tù như vậy triền miên. Chẳng người tử tế nào coi trọng chúng tôi ở những lần tù như thế. Hôm nay tôi ngồi đây với ông còn là may. Đáng ra tôi đang ngồi tù vì tội nào đó như chém, bắn người rồi.  Trong cái thời gian tôi ở tù, nhìn thấy những bạn tù đi ra đi vào đến 3 lần. Chả ai goi đấy là anh hùng cả. Chúng tôi có đi tù ra tù vào cả đời như thế, cũng không ai nhớ đến. Thậm chí là hàng xóm của mình. Chỉ có các ông là nhớ những lần chúng tôi đi tù, vì công việc các ông cần nhớ để cộng lại tính mức án tù sau lớn hơn án tù trước. Tình tiết tái phạm phải không.?

Ông nhíu mày nhìn tên tù, có thể đây là một dạng của khủng hoảng suy sụp mà giờ ông mới gặp không. Ông gật đầu trước câu hắn hỏi.

Tên tù nhấp nước, xoa cái chén trong lòng hai bàn tay. Hắn nhìn xa qua cửa sổ, hắn nói như cho hắn nghe, như không có ông ở đấy. Như một thằng ngẩn ngơ đang làm thơ, y như vậy.

- Nếu lần này tôi bị tù, tôi biết chỉ từ 2 đến 5 năm. Mức án tuỳ thái độ ở toà. Nếu tôi nhận sai xin khoan hồng thì chỉ 2 năm. Nếu tôi cãi phản bác mạnh sẽ 5 năm. Nếu tôi cứ ngẩn ngơ không nhận sai, không phản bác tôi sẽ bị 3 năm. Hai hay năm năm không quan trọng với tôi, vì ông cũng biết tôi đã đi tù dài như thế, trong những nhà tù khắc nghiệt nhất đất nước này. Nhưng tôi sẽ không xin khoan hồng, nếu xin thì tôi đã làm việc ấy với ông ở đây, không ai thấy, không ai chứng kiến.

Người cán bộ điều tra nở nụ cười mỉa mai.

- Tưởng gì, chứ muốn đi tù thì dễ lắm, cứ thế này là sẽ được đi.

Tên tù cười lắc đầu nhìn ông vẻ bất mãn, ông dường như chả hiểu hắn muốn nói điều gì. Hắn thấy không cần phải vòng vo nữa, hắn nói dứt khoát.

- Nếu có một án tù vì tội danh này, tội lợi dụng tự do ngôn luận xâm hại lợi ích nhà nước mà ông đang hỏi đây.  Đó là điều tôi muốn. Vì thế người ta sẽ nhớ đến tôi là một con người khác. Không phải là một thằng lưu manh, cờ bạc buôn lậu, trấn lột. Sẽ chẳng ai nghĩ đến những chuyện trước kia của tôi. Các ông đã giúp tôi xoá sạch trong đầu mọi người về những việc tôi làm hồi trẻ. Đất nước này không mãi như hôm nay, chẳng ai nắm tay đến sáng. Người ta sẽ nhớ đến tôi là người đã dám phản bác hành động sai trái của chế độ. Năm năm tù thì có gì mà đắt với cái việc xoá sạch quá khứ ấy. Chả phải nhiều thằng trong chúng tôi đã đi ra đi vào nhà tù 3 năm rồi 5 năm, rồi 10 năm. Có ai nhớ đến chúng đâu. 

Tên tù ngừng nói, hắn đã nói xong. Cán bộ điều tra nhìn đồng hồ còn hơn nửa tiếng, ông xếp giấy tờ cho vào cặp , đứng dậy nói.

- Hôm nay đến đây tạm nghỉ. Anh nên nhớ cơ quan an ninh có hàng trăm nghìn biện pháp, chưa chắc chúng tôi đã đưa anh ra toà để anh làm anh hùng đâu.

Tên tù đứng dậy, hắn nói.

- Tôi chỉ là thằng lưu manh, bởi tính lưu manh toan tính, nên nếu bị thời điểm bị buộc làm anh hùng. Tôi sẽ diễn tốt khoảnh khắc ấy như một anh hùng. Một khoảnh khắc hiếm có  mà chả thằng lưu manh nào có được trong đời. Để cho con tôi được tự hào.

........

Trên đây là một câu chuyện không chắc là có thật. Nhân vật cũng không có tên tuổi hay dấu vết nào của sự thật. Sở dĩ nó được viết ra ngày hôm nay. Để minh hoạ cho phiên toà Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thuý Quỳnh mà toà án Đồng Tháp đã xử ngày 26 tháng 8 vừa qua. Là câu chuyện đi tìm một khoảnh khắc mong ước trong cuôc đời để gột rửa mình không hề dễ chút nào. Kể cả có toan tính như tên tù lưu manh kia. Bởi nó còn là sự lựa chọn của hồn thiêng sông núi, không phải kẻ nào toan tính mà có được.

Từ hai người nông dân hiền lành, vô danh như Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thuý Quỳnh, họ đã để lại tên mình trong tâm khảm của hàng triệu người dân Việt Nam về sự oan ức , bất công, sự dối trá của hệ thống pháp luật hiện nay, cũng như mưu toan thủ đoạn bất nhân của nhà cầm quyền.

 Cái khoảnh khắc họ đứng nhận phán quyến của toà án, cũng là khoảnh khắc họ đã ghi tên mình vào lịch sử như những chứng nhân của sự bất công , tha hoá, phi đạo đức tràn lan trong chế độ.

Một người phụ nữ bình thường với tính cách dân dã, chợ búa như Bùi Thị Minh Hằng, học thức không cao, gần cả cuộc đời chỉ toan tính thiệt lợi trong kinh doanh bỗng nhiên đã tìm được khoảnh khắc để làm chói sáng cuộc đời mình. Để được những khoảnh khắc như thế, người ta phải vượt qua những toan tính tầm thường, phải có một nội tâm sâu sắc và niềm tin mãnh liệt.  Để đi đến khoảnh khắc ấy là bao nhiêu thử thách , bao nhiêu cám dỗ, bao nhiêu lời đường mật đưa ra để ngăn cản.

Những con cá hồi làm cuộc hành trình hàng chục ngàn cây số, đối đầu với những sự chết chóc bởi những con cá to lớn hung ác. Để làm gì, để chúng đến một nơi chúng sẽ chết. Và cái khoảnh khắc được chuyển sang màu đỏ hồng phơi người chết trên mặt nước, đúng cái nơi mà chúng muốn, đúng cái thời điểm chúng muốn. Đó là khoảnh khắc vĩ đại nhất trong đời con cá hồi nào có được. Hàng triệu con khác đã chết trên đường đi. Chỉ những con cá hồi về được nơi chúng muốn chết là cái chết có ý nghĩa, vì nó sẽ sản sinh ra những sức sống mới cho thế hệ sau.

 Nào, giờ thì ai nghĩ Bùi Hằng là chủ quán Bar, là kẻ vô học gào toáng trên đường. Cái giờ phút khuôn mặt gầy rộc nhưng đầy quả cảm, kiên nghị trước phiên toà của bạo quyền. Hình ảnh đấy đã xoá đi tất cả những gì mà người khó tính đôi khi nghĩ không tốt về chị.

 Nếu không có khoảnh khắc bị đóng mình trên thánh giá.chịu chết. Chúa Jesu mãi mãi chỉ là một ngươi thợ mộc.






Nếu câu chuyện trên cùng là có thật. Tên tù trong câu chuyện hẳn sẽ nể phục cái khoảnh khắc người đàn bà này đã làm nên. Điều mà nhiều kẻ nam nhi như hắn đã không làm được hoặc không dám làm.

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Từ Dịch Thuỷ đến Tiền Giang.

Hơn 200 năm trước Công Nguyên, Tần Thuỷ Hoàng đã dựng lên một triều đài độc tài lớn nhất Trung Hoa. Nỗi sợ hãi về hình ảnh uy nghi quyền lực như thượng đế của Tần Doanh Chính làm khiếp đảm cả thiên hạ Trung Hoa mênh mông.  Bằng quyền lực tuyệt đối của mình, Tần Thuỷ Hoàng đã bắt dân chúng phải lập nên một dãy tường thành vạn lý, khiến bao người mất mạng vì đói rét, bệnh tật, kiệt sức khi xây thành. Thế nhưng toàn bộ Trung Hoa không có một sự phản kháng nào đáng kể.


 Kinh Kha người nước Vệ, đã nhận trọng trách ám sát Tần Thuỷ Hoàng. Trong lúc Tần Thuỷ Hoàng đang ở đỉnh cao của quyền lực tối thương.

Kinh Kha khi qua sông Dịch Thuỷ để hướng về Hàm Dương thực hiện sứ mệnh tiêu diệt tên bạo chúa độc tài Để Kinh Kha có thể tiếp cận được Tần Thuỷ Hoàng những người thực hiên , giúp đỡ đã phải mất nhiều của cải, và cả tính mạng như Phàn Ô Kỳ, tự cắt đầu để Kinh Kha dâng vua Tần. Có dịp gặp để ra tay.

Kinh Kha ra tay không thành công, bị giết ở giữa cung điện Tần Vương.

Đời sau người ta nhắc đến Kinh Kha , không luận sự đạt được mục đích ban đầu. Thiên hạ ngàn đời nhớ đến Kinh Kha, bởi dám làm một việc như thế.

Thực ra Kinh Kha chẳng những biết mình sẽ chết, mà Kinh Kha còn biết được mình sẽ không hoàn thành được công việc. Thế nhưng Kinh Kha vẫn đi, vẫn để bao người tâm huyết, xương máu bỏ ra để mình đi thực hiện công việc đó.

Bởi vì một điều mà ít ai nói đến.Là lúc đó hình ảnh Tần Thuỷ Hoàng chói loị quyền uy, như thánh thần, thượng đế. Thế mà có người tính chuyện giết chết. Giết chết như một tên ác nhân bình thường, đó là giết bằng dao găm.

Câu chuyện hành thích của Kinh Kha đã dấy lên trong nhân dân ý nghĩ, rằng Tần Thuỷ Hoàng không phải là thánh, là thượng đế. Mà chỉ là độc tài, khát máu, man rợ có quyền lực trong tay. Hắn chẳng phải con trời, hay thần thánh gì cả. Từ đó bắt đầu có những sự nổi dậy liên miên của người dân, nhà Tần bị diệt vong không lâu sau đó. Thậm chí ngay trong nội bộ triều đình sự coi thường vương triều nhà Tần cũng lộ trắng trợn qua việc Triệu Cao, Lý Tư lộng hành.

Đó chính là điều mà Kinh Kha mong đợi, chứ không phải là việc ông giết được Tần Thuỷ Hoàng. Ông mong đợi  nhát dao của mình đâm vào cái áo của Tần Thuỷ Hoàng,  đó là đâm vào hình ảnh chế độ độc tài hùng mạnh, đâm vào một hình tượng tưởng như thánh thần trên trời rơi xuống, đâm vào sự ngộ nhận của nhân dân, sự sợ hãi của nhân dân Trung Hoa dưới thời Tần Thuỷ Hoàng. Để rồi những cuộc khởi nghĩa được phát động, để cho chính những quan lại nhà Tần cũng coi thường Tần Vương, cho đó cũng là con người, có thể lấn át quyền lực như thường.

Nhát dao của Kinh Kha chính là nhát dao đâm vào hình tượng của một chế độ. Thân xác của Tần Doanh Chính còn sống, nhưng hình tượng về bậc đế vương uy quyền khiến thiên ha khiếp sợ bắt đầu chết từ đó.

Câu chuyện về Kinh Kha gắn với dòng sông Dịch Thuỷ, hình ảnh người tráng sĩ ra đi và để lại cho đời sau một huyền thoại bất tử.


 Hơn 2000 năm sau ở Việt Nam, từng tốp người vượt cả ngàn cây số để chờ dịp băng qua dòng Tiền Giang hướng về phía phiên toà xét xử người công chính mà chế độ cầm quyền mở ra vào sáng ngày 26 tháng 8 năm 2014. Họ đến được dòng Tiền Giang cũng đầy khó khăn, nguy hiểm. Ngay từ nhà họ, đã phải bằng mọi cách mưu trí, tốn kém ..bằng mọi giá họ đến được đất Cao Lãnh vào lúc phiên toà bắt đầu.

 Nhiều người trong số họ đã bị bắt ở đất Cao Lãnh, khi mà phiên toà chưa mở.

Phải chăng nhà cầm quyền nghĩ rằng chặn được người đến dự phiên toà là thành công.?

Không, thực ra những người đi đến phiên toà, cũng đã lường được việc sẽ bị chặn khi đến nơi.Hoặc bị bắt giữ khi đến nơi. Họ không trông mong sẽ có mặt trước phiên toà, để hô khẩu hiêụ bênh vực người công chính bị nhà cầm quyền Đồng Tháp vu oan bắt tội. Họ quá hiểu sự thủ đoạn của nhà cầm quyền này thế nào.

 Nhưng họ vẫn đi, bằng mọi cách họ đi hết khả năng của mình, đến khi bị chặn bắt. Đó mới là sự thành công mong đợi. Người dân sẽ thấy hành động phản đối phiên toà rất quyết liệt đến cùng của nhiều người đó. Đấy cũng là nhát dao đâm vào hình ảnh chế độ này. Nếu phiên toà là tượng trưng cho quyền lực của chế độ , thì hành động những người bị bắt giữ vì kiên quyết đến phản đối phiên toà . Chính là nhát dao chém vào mặt uy tín của chế độ này một cách công khai.

 Thử nghĩ xem, nếu họ không bị chặn từ nhà, răn đe, kiểm soát. Họ ung dung đi vào đến phiên toà, đứng bên ngoài giơ băng rôn. Bị cô lập hai đầu đường vì đủ loại cảnh sắt ngăn đường. Như thế thì có ấn tượng bằng họ bị doạ dẫm, bị ngăn chặn từ nhà, bị săn duổi suốt quãng đường đi...nhưng họ vẫn quyết tâm đi.

 Hôm nay những người qua được dòng Tiền Giang nhưng không đạt được mục tiêu ban đầu là dự phiên toà. Nhưng họ đã đạt được một thứ lớn lao hơn rất nhiều. Đó là họ để lại hình ảnh kiên quyết, quả cảm đến cùng trong việc phản đối sự bất công trên đất nước này, do chế độ tưởng là hùng mạnh này tạo ra. Ý nghĩa mấu chốt của hành động lịch sử không phải lúc nào cũng nằm trong dự tính ban đầu. Nó không cần thiết phải đạp đổ toà thành nào đó ngay lập tức, mà nó có ý nghĩa là tạo ra cho dân chúng thấy những toà thành xây nên bằng sự xảo trá, bạo quyền sẽ có một người và nhiều người, nhiều người nữa cùng muốn đạp đổ.

 Nếu cho hình ảnh Kinh Kha là phản kháng chế độ bằng việc qua sông Dịch Thuỷ năm xưa, dẫn đến những cuộc phản kháng lớn sau này. Bạn sẽ thấy hình ảnh những người dân Việt từ ngàn cây số đến Đồng Tháp và băng qua sông Tiền Giang là dấu hiệu cho thấy lòng người dân Việt đã thế nào với thể chế này.

 Thế nên chúng ta không hề thất vọng vì những người bị bắt và họ không có mặt phiên toà. Chúng ta đâu cần họ có mặt hai tiếng ở phiên toà xử úp sọt đó, để hô hào trong vòng kiểm soát của công an. Cái chúng ta cần là ý chí kiên cường của họ, trên quãng đường gian nan mà họ đã băng qua. Và chúng ta , những người quan sát đã nhận được điều mà chúng ta mong.

 Với những ý chí như họ thể hiện, hẳn chúng ta sẽ vui mừng khi đứng cùng họ, trong nhiều việc sau này nữa.


Nếu những người đi đến phiên toà này, họ bị ngăn chặn, bị doạ nạt ở nhà, họ nghĩ ở nhà thế này, đến nơi cũng thế.  Sẽ chả có gì được viết ra, chả ai nhận thấy điều gì ở họ. Cũng như Kinh Kha biết không hạ sát được vua Tần, chưa giết đươc vua Tần đã tốn kém xương máu mà không đi, có lẽ u mê của người dân lầm tưởng chế độ Tần Thuỷ Hoàng là thánh thần, bất khả xâm phạm sẽ còn rất lâu.

 Những người bị bắt giữ, ngăn chặn đến phiên toà , việc các bạn bây giờ là ghi nhớ các sự kiện của mình, vì đó là câu chuyện của lịch sử không dễ gì có được suốt 70 năm qua trên đất nước này. Chỉ ghi nhớ và kể cho mọi người thôi, các bạn đã không những hoàn thành tốt sự ủng hộ với ba người bị xét xử, mà còn với sự thức tỉnh của nhân dân nữa.